Ảnh ngẫu nhiên

Happy_new_year.swf Covernewyear.jpg Lienkhuctrung_thu.swf R.jpg DSC02379.jpg Nhat__ky_cua_me_sen_trang.swf LONG_ME2.swf THIEN_CHUC.swf ME_TOI.swf ME_TOI.swf Hoa_tau.swf Nhu_da_dau_yeu14.swf QuehuongtoiB.swf Chuc_mung_832013.swf Doi_canh_tinh_yeu__Hoa_tau.swf Loan_nam_moi_2013.swf Chi_yeu_minh_anh_.swf Ngay_tet_que_em.swf Xuanhopmatmoi1.swf

Tài nguyên dạy học

Hỗ trợ trực tuyến

  • (Từ Thị Thúy Nhẫn)

Điều tra ý kiến

Theo bạn, quan niệm cho rằng học trò không phải là cái bình cần đổ đầy kiến thức mà là một ngọn nến cần được thắp lên là :
Đúng
Chưa hoàn toàn đúng
Sai

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    0 khách và 0 thành viên

    Sắp xếp dữ liệu

    Gốc > Ôn thi môn văn > Đề thi đại học môn văn >

    Đề thi đại học môn văn, khối C, 2012

    Đề thi môn Ngữ văn khối C

    I. PHẦN CHUNG CHO TẤT CẢ THÍ SINH (5,0 điểm) 

    Câu 1 (2,0 điểm)

    Trong tác phẩm Ai đã đặt tên cho dòng sông? (Ngữ văn 12, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2011), ở phần nói về thượng nguồn sông Hương, Hoàng Phú Ngọc Tường đã ví vẻ đẹp của dòng sông này với hình ảnh hai người phụ nữ, đó là những hình ảnh nào? Ý nghĩa của những hình ảnh ấy?

    Câu 2 (3,0 điểm)

    Kẻ cơ hội thì nôn nóng tạo ra thành tích, người chân chính thì kiên nhẫn lập nên thành tựu. Hãy viết một bài văn ngắn (khoảng 600 từ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về ý kiến trên.

    II. PHẦN RIÊNG (5,0 điểm)

    Thí sinh chỉ được làm một trong hai câu của phần riêng (câu 3.a hoặc câu 3.b) 

    Câu 3.a. Theo chương trình Chuẩn (5,0 điểm)

    Cảm nhận về vẻ đẹp sử thi của hình tượng nhân vật Tnú trong tác phẩm Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành (Ngữ văn 12, Tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam, 2011).

    Câu 3.b. Theo chương trình Nâng cao (5,0 điểm) 

    Cảm nhận về hai đoạn thơ sau:

    Sao anh không về chơi thôn Vĩ?

    Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên

    Vườn ai mướt quá xanh như ngọc

    Lá trúc che ngang mặt chữ điền.

    (Đây thôn Vĩ Dạ - Hàn Mặc Tử, Ngữ văn 11 Nâng cao,

    Tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam, 2011, tr.46)

     

    Nhà em có một giàn giầu,

    Nhà anh có một hàng cau liên phòng.

    Thôn Đoài thì nhớ thôn Đông,

    Cau thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào?

    (Tương tư – Nguyễn Bính, Ngữ văn 11 Nâng cao,

    Tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam, 2011, tr.56)

     

     

    ĐỀ THI TUYỂN SINH ĐẠI HỌC NĂM 2012

    Môn: NGỮ VĂN; Khối: C

    Thời gian làm bài: 180 phút, không kể thời gian phát đề

    I. Phần chung:

                Câu 1: Trong tác phẩm “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” của Hoàng Phủ Ngọc Tường, ở phần nói về thượng nguồn dòng sông Hương, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã ví vẻ đẹp của dòng sông này với hình ảnh hai người phụ nữ, đó là những hình ảnh nào? Ý nghĩa của những hình ảnh ấy?

                Câu 2:

                “Kẻ cơ hội thì nôn nóng tạo ra thành tích, người chân chính thì kiên nhẫn lập nên thành tựu.”

                Viết một bài văn ngắn (khoảng 600 từ) trình bày suy nghĩ của anh (chị) về ý kiến trên

    II. Phần riêng:

                Câu 3.a:

                Cảm nhận vẻ đẹp sử thi của hình tượng nhân vật Tnú trong tác phẩm Rừng xà nu của  Nguyễn Trung Thành

                Câu 3.b:

                            Cảm nhận hai đoạn thơ sau:

    “Sao anh không về chơi thôn Vĩ?

                                        Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên

                                        Vườn ai mướt quá xanh như ngọc

                                        Lá trúc che ngang mặt chữ điền”

                                                                (Đây thôn Vĩ Dạ - Hàn Mặc Tử)

                                                    “Nhà em có một giàn giàu,

                                        Nhà anh có một hàng cau liên phòng.

                                                    Thôn Đoài thì nhớ thôn Đông

                                        Cau thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào

                                                                (Tương Tư – Nguyễn Bính)

    BÀI GIẢI GỢI Ý

    Câu 1: Hoàng Phủ Ngọc Tường là một nhà văn chuyên về bút kí với lối hành văn hướng nội, súc tích, mê đắm vào tài hoa. “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” là bài bút kí xuất sắc của ông, viết năm 1981. Văn bản trong sách giáo khoa trích phần thứ nhất của bài bút kí này. Trong văn bản, khi viết về sông Hương ờ thượng nguồn, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã ví vẻ đẹp của dòng sông với hình ảnh hai người phụ nữ.

    -         Giữa lòng Trường Sơn, sông Hương đã sống một nửa cuộc đời của mình như một cô gái Di-gan phóng khoáng và man dại. Với so sánh này tác giả đã ca ngợi vẻ đẹp thiên nhiên đầy sức sống và đa dạng của dòng sông. Có lúc nó mãnh liệt qua những “ghềnh thác cuộn xoáy như cơn lốc vào những đáy vực bí ẩn”; có lúc nó trở nên “dịu dàng và say đắm giữa những dặm dài và chói lọi màu đỏ của hoa đỗ quyên rừng”. Dòng sông được nhân hóa thành con người có bản lĩnh gan dạ, tâm hồn tự do và trong sáng.

    -         Dòng sông còn được ví như người mẹ phù sa của một vùng văn hóa xứ sở. Phù sa của sông cung cấp chất màu mỡ cho đất đai. Ví sông Hương là “người mẹ phù sa” nhà văn muốn nói sông Hương là ngọn nguồn cho cảm hứng nghệ thuật, văn hóa của người Huế nói riêng, người ViệtNamnói chung.

    Câu 2:

    1. Giới thiệu được luận đề cần giải quyết
    2. Giải quyết vấn đề
      1. Giải thích:

    + Giải thích từ ngữ:

    -         Kẻ cơ hội là người nhanh chóng nắm bắt hoàn cảnh hoặc điều kiện thuận lợi để thực hiện một mục tiêu nào đó.

    -         Nôn nóng: thái độ vội vàng, muốn nhanh chóng đạt được kết quả

    -         Người chân chính: người có những suy nghĩ và việc làm nghiêm túc, có đạo đức, có mục tiêu tốt đẹp theo đúng chuẩn mực của xã hội; đạt đến thành công bằng chính năng lực của mình.

    -         Kiên nhẫn: quyết tâm, bền chí để đạt được mục tiêu đã xác định.

    -         Thành tích, thành tựu: kết quả tốt đẹp cuối cùng của một quá trình suy nghĩ và làm việc.

    + Giải thích ý nghĩa cả câu:

    Ý kiến trên cho thấy kẻ cơ hội và người chân chính đều muốn có những kết quả tốt đẹp cho việc làm của mình nhưng kẻ cơ hội thì vội vàng, còn người chân chính thì kiên nhẫn. Câu nói có phần phê phán thái độ nôn nóng, vội vàng, mặt khác khẳng định sự kiên nhẫn của người chân chính.

    1. Bàn luận:

    -         Kẻ cơ hội thì nôn nóng tạo ra thành tích:

    + Có ý kiến cho rằng “Đời người có ba thứ qua đi không lấy lại được là tuổi trẻ, thời gian và cơ hội”. Cơ hội chỉ xuất hiện trong một thời điểm nhất định, nếu không biết nắm bắt, nó sẽ vuột mất. Vì vậy, kẻ cơ hội rất nôn nóng trong việc vận dụng điều kiện thuận lợi để thực hiện mục tiêu của mình.

    + Đời người có thể có nhiều cơ hội nhưng các cơ hội ấy không giống nhau, vì vậy một khi cơ hội qua đi sẽ không đạt được kết quả như ý.

    + Kẻ cơ hội hiểu rất rõ sự bất ổn này nên có thể dùng mọi mánh khóe, thủ đoạn để đạt được kết quả (dẫn chứng).

    -         Người chân chính thì kiên nhẫn để đạt được thành tựu:

    + Người chân chính cũng biết nắm bắt cơ hội nhưng không đạt được mục tiêu bằng bất cứ giá nào như kẻ cơ hội. Nếu thất bại, người chân chính sẽ đứng lên từ chính chỗ thất bại ấy để làm lại từ đầu.

    + Người chân chính thường làm việc với một lý tưởng phù hợp với những chuẩn mực của xã hội nên có sự bền chí, quyết tâm trong việc thực hiện mục tiêu.

    + Người chân chính xem cơ hội là phương tiện chứ không phải là cứu cánh trong việc thực hiện mục tiêu. Do vậy, họ có lòng kiên trì, theo đuổi mục tiêu cho đến cùng, chứ không dựa dẫm, không dùng thủ đoạn (dẫn chứng).

    1. Mở rộng:

    Ý kiến này giúp ta phân biệt rõ thế nào là kẻ cơ hội và người chân chính. Mặt khác, nó cho thấy cách thực hiện mục tiêu của kẻ cơ hội và người chân chính rất khác nhau. Từ đó, ý kiến này có vai trò định hướng cho học sinh và thanh niên trong việc thực hiện ước mơ, theo đuổi mục tiêu của mình. Ta phải biết nắm bắt cơ hội nhưng cũng phải có lòng kiên nhẫn thì mới đạt được những thành tựu tốt đẹp, có ý nghĩa.

    1. Kết luận:

    Rút ra bài học về nhận thức và hành động cho bản thân.

    Câu 3a.

    • Yêu cầu kỹ năng:

    -          Biết cách làm nghị luận văn học. Để cảm nhận tác phẩm về nội dung và nghệ thuật .

    -          Kết cấu chặt chẽ, diễn đạt mạch lạc, không mắc lỗi chính tả, ngữ pháp, dùng từ.

    • Yêu cầu về kiến thức:

    Trên cơ sở hiểu biết, thí sinh trình bày theo nhiều cách nhưng cần nêu các ý chính sau:

    - Giới thiệu tác giả, tác phẩm, nhân  vật.

    +  Nguyễn Trung Thành là nhà văn gắn bó với Tây Nguyên trong cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ.

    + Tác phẩm “Rừng xà nu”.

    • Hoàn cảnh sáng tác: Viết năm 1965, khi đế quốc Mĩ ồ ạt đổ quân vào miền Nam. Truyện đăng lần đầu trên tạp chí văn nghệ Quân Giải Phóng Trung Trung Bộ, sau đưa vào tập truyện “Trên quê hương những anh hùng Điện Ngọc”
    • Nhân vật Tnú là nhân vật chính, mang đậm tính sử thi.

    - Khai thác đặc điểm nhân vật

    v      Về nội dung, ý nghĩa

    + Là đứa trẻ mồ côi được làng Xôman nuôi dưỡng, nhận vai trò làm chú bé liên lạc mang ánh sáng của Đảng về với buôn làng.

    + Trưởng thành, anh trở thành cán bộ Đảng, đấu tranh theo Đảng, làm kẻ thù khiếp sợ.

    + Kẻ thù dùng thủ đoạn thâm độc đánh vào gia đình anh.

    • Trước cảnh vợ con bị tra tấn (phân tích một đoạn văn miêu tả tình huống bi kịch của người chiến sĩ xoay quanh các vấn đề : gia đình – đất nước).
    •  Cách giải quyết : anh xông ra cứu vợ con bằng tay không, giặc bắt và đốt hai bàn tay của anh (phân tích hình ảnh bàn tay Tnú và tâm trạng của anh lúc đó).
    • Cụ Mết cùng thanh niên vào rừng lấy vũ khí, trở lại tiến hành nổi dậy và chiến thắng (phân tích lời nói cụ Mết và hành động của cụ).

    v      Về nghệ thuật:

    + Nhân vật đậm chất sử thi.

    + Nghệ thuật tạo tình huống bi kịch giữa riêng – chung .

    + Chi tiết “đắt” (như đôi mắt, bàn tay Tnú …)

    Câu 3b.

    • Giới thiệu hai nhà thơ – hai đoạn thơ:

    -          Là hai nhà thơ thuộc phong trào Thơ mới (30 – 45), Hàn Mặc Tử và Nguyễn Bính thể hiện tâm trạng nhân vật trữ tình – tác giả qua thơ bằng những nét không nhầm lẫn.

    -          Đưa hai đoạn thơ vào…

    • Khai thác hai đoạn thơ :

    -          Tìm hiểu những nét chung của hai đoạn thơ

    + Nếu Hàn Mặc Tử tả cảnh thôn Vĩ  qua một địa danh cụ thể để gửi tình yêu quê hương.

    + Còn Nguyễn Bính tạo ra một không gian của thôn xóm, làng quê ngụ tâm tình chân chất, giản dị.

    -          Khai thác cụ thể hai đoạn

    + “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử  qua bốn dòng thơ đầu “Trích dẫn …..”

    v            Một dòng đầu : Sự trách móc bằng câu hỏi chỉ để hỏi (phân tích các chi tiết: địa danh “thôn Vĩ”, hành trình “về chơi”)

    v            Ba dòng sau :

    • Hình ảnh thôn Vĩ và con người xuất hiện rất tự nhiên (phân tích hình ảnh hàng cau đặt trong nắng và nắng mới lên mang nhiều tầng ý nghĩa thể hiện cách cảm nhận của cái tôi - nhà thơ - hình ảnh “hàng cau”, “vườn ai”, “mặt chữ điền”).

    v            Cảm nhận :  cái tôi không lầm lẫn của Hàn Mặc Tử viết trong và bằng đau thương của một người mắc bệnh khắc nghiệt nhưng vẫn tạo ra những vần thơ trong sáng, giản dị.

    + Bài  “Tương tư” của Nguyễn Bính qua bốn dòng cuối (Trích dẫn :…)

    v            Hai dòng đầu :

    • Tạo hình ảnh làng quê Việt Nam với những nét đơn giản, mộc mạc (phân tích : hai nhân vật “em – anh“ của tình yêu đôi lứa - Hình ảnh “một giàn giầu – một hàng cau” của làng quê tạo thành một tình cảm độc đáo của tình yêu quê hương bằng sự đan cài riêng – chung).

    v            Hai dòng sau:

    • Thể hiện tâm tình của nhân vật trữ tình – tác giả (phân tích hình ảnh : “thôn Đoài – thôn Đông” cùng “cau nhớ giầu không” phản ánh trạng thái xúc cảm phức tạp : nhung nhớ, trông mong, trách móc … hơn hết là khao khát hạnh phúc lứa đôi.

    v            Cảm nhận :  Tâm tình của Nguyễn Bính về tình yêu đôi lứa gắn liền với hồn quê man mác, nhẹ nhàng . Và hình ảnh thơ giản dị dễ hiểu xuất phát từ cái tôi – Nguyễn Bính gắn bó sâu nặng với những nét đẹp văn hóa Việt Nam.

    + Nhận xét chung về hai bài thơ của hai tác giả:

    • Cả hai đoạn thơ đều thể hiện tâm trạng nhân vật trữ tình - tác giả đối với quê hương nhưng được khai thác bằng nét khác nhau đúng với yêu cầu “khoa học là ta, văn học là tôi”.
    • Đều vận dụng bút pháp “tả cảnh, ngụ tình” bằng cách khai thác không lầm lẫn.

     

                                                                                                           Lý Tú Anh

                                                                                              THPT Vĩnh Viễn - TPHCM


    Nhắn tin cho tác giả
    Từ Thị Thúy Nhẫn @ 19:14 31/07/2012
    Số lượt xem: 1841
    Số lượt thích: 0 người
    Avatar

    ĐỀ THI ĐẠI HỌC MÔN VĂN, KHỐI C, 2012

    Avatar

    Đề mở, đáp án sẽ mở. Nếu các em không làm đúng y như đáp án của Bộ nhưng nghị luận hợp lí vẫn sẽ đạt điểm cao vì còn có phần hướng dẫn chấm tỉ mỉ nữa.

    Đừng lo quá nhé. Chúc các em may mắn. Bây giờ thì nghỉ ngơi đi thôi.

    Avatar

    Ra đề mở để tránh học vẹt

    Năm nay đề Văn và đề Địa được đánh giá khá hay, gắn liền với vấn đề thời sự là suy tôn thần tượng và Trường Sa – Hoàng Sa. Với cách ra đề mở như môn Văn cách chấm thi liệu có mở?

    Cục phó Cục khảo thí và kiểm định chất lượng, Bộ GD-ĐT Trần Văn Nghĩa: Đề thi ĐH năm nay nhìn chung bám sát chương trình SGK phổ thông. Việc ra đề thi năm nay đảm bảo tính chất phân hóa, học sinh trung bình cũng có thể được 4 đến 5 điểm. Và có những phần khó để phân loại học sinh. Qua phản ánh ban đầu của giáo viên có lẽ đề đã đạt được những yêu cầu này.

    Với đề thi Văn, việc ra đề mở gắn liền vấn đề xã hội để tránh cho học sinh việc học vẹt. Việc đúng hay sai của ý kiến trong đề thi sẽ có những ý kiến bình luận ngược lại. Hoàn toàn học sinh có thể bình luận lại. Bộ khuyến khích những bài không giống đáp án của Bộ, sáng tạo. Nếu các em trình bày khác ý trong đáp án nhưng có đầy đủ lí lẽ xác đáng vẫn sẽ được điểm.

    Đề thi môn Địa lý có ý về biển đảo, Bộ GD-ĐT không có chỉ đạo cụ thể. Có rất nhiều đề được đưa ra, sau khi bốc ngẫu nhiên, rơi vào đâu thì lấy. Quan trọng là đề thi ra đúng quy chế và đảm bảo học gì ra cái đó.

    - Với những đánh giá tích cực về công tác ra đề thi và làm bài của thí sinh ở các khối B, C, D vừa qua liệu mức điểm sàn năm 2012 có cao hơn năm 2011?

    Thứ trưởng Bộ GD-ĐT Bùi Văn Ga: Việc quyết định mức điểm sàn có nhiều yếu tố như sự dịch chuyển các thí sinh giữa vùng này với vùng kia, cơ cấu ngành nghề đặc biệt là quy hoạch phát triển nguồn nhân lực từ nay đến 2020 của Chính phủ. Tuy nhiên với tình hình kết quả thí sinh làm bài tốt hơn so với năm ngoái hy vọng điểm sàn sẽ không thấp hơn so với năm ngoái.

    Với cách ra đi như năm nay thì phổ điểm sẽ tốt hơn, không có quá nhiều điểm thấp như trước đây mà dịch chuyển lên phổ từ 4 điểm đến 6 điểm. Các trường cũng sẽ dễ dàng khi lựa chọn thí sinh phù hợp với nhu cầu tuyển dụng của mình.

     

     

     

     
    Gửi ý kiến

    Chào mừng quý vị đến với Góc nhìn cuộc sống.

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.